Hôm nay có anh bạn ới mình đọc Bùi Trọng Hiền nên làm cái topic này để đặt link. Phía dưới sẽ để các ý mà mình thấy ra lúc đọc.
Lan man về văn hóa dân tộc thời hội nhập

Ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật, dường như cứ có yếu tố Tây phương thì sẽ được coi là “trẻ trung, sôi động, thời đại”. Có 1 nghìn lẻ 1 dẫn chứng cho hiện tượng này, không thể kể xiết. Đến nỗi, phải mất rất nhiều năm, chính bản thân người viết bài này mới ngộ ra được cái gọi là “bản lĩnh văn hóa dân tộc” là gì. Có rất nhiều việc, tưởng chừng như thật đơn giản, song cũng phải có thái độ tranh đấu thực sự mới mong bảo vệ được các giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc ngay trong chính bản thân. Giả sử có ai đó hiểu được cái váy đầm “tân thời” kia thực ra vốn là trang phục cổ truyền của Tây phương, đã thịnh hành từ nhiều thế kỷ trước… thì có lẽ cũng có nhiều người phải giật mình nghĩ lại (dù chưa chắc dám thay đổi nếp nghĩ). Mấy ai để ý đến dàn nhạc giao hưởng cùng với kho tàng âm nhạc cổ điển phương Tây cũng chính là một trong những di sản âm nhạc cổ truyền của HỌ. Nhiều khi chỉ cần hiểu một cách hết sức đơn giản kiểu như L.V.Beethoven là đồng đại với thời vua Quang Trung, hay J.S.Bach là vào khoảng thời Trịnh -Nguyễn phân tranh… thì dường như chúng ta có thể “bình tĩnh” mà nhìn nhận khái niệm mới – cũ giữa TA và HỌ.

Tôi tin sẽ có một ngày, trong lĩnh vực văn hóa (tôi nhấn mạnh), chúng ta sẽ cùng nhìn nhận lại tính 2 mặt của sự giao lưu, tiếp biến thời đầu thế kỷ XX, ví như tác động của phòng trào Duy tân chẳng hạn. Rằng từ đó, mái tóc dài của đàn ông Việt Nam được thay thế bằng mái tóc ngắn, rồi sự lên ngôi của Âu phục, trở thành chuẩn văn minh lịch sự… Nhiều tiêu chí đẹp- xấu, hay -dở đã được thiết lập lại “trật tự” từ đó. Hệ thống thẩm mỹ truyền thống dân tộc đã được “di dời một thời” như vậy!

Văn hóa vốn bình đẳng. Giao lưu văn hóa, tiếp thu các giá trị bên ngoài là điều hoàn toàn nên làm, nhưng hãy để bản ngã văn hóa dân tộc trường tồn. Trong phân nửa thế kỷ qua, nhiệm vụ bảo tồn các giá trị văn hóa nghệ thuật cổ truyền dân tộc là điều đã được khẳng định. Vậy tại sao trên thực tế, đó dường như chỉ là một khẩu hiệu được hô to mà thôi?! Đã có khá nhiều ý kiến “đồng thanh tương ứng” cho rằng, sự thất truyền của nhiều chân giá trị là điều… tất yếu! Người ta còn khẳng định trong sự phát triển, có “sinh” thì phải có “diệt”. Thiết nghĩ, đó là sự áp dụng thô bạo thuyết tiến hóa vào văn hóa nghệ thuật!

Nên có sự phân biệt văn hóa và văn minh (Reference: Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới)

Ở đây, tôi cho rằng THỜI ĐẠI hay cái gọi HƠI THỞ THỜI ĐẠI là các khái niệm hết sức trừu tượng. Một “thời đại” như thế nào sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của từng thế hệ. Nói nôm na là con người như thế nào thì sẽ tạo ra thời đại tương ứng. Thế nên THỜI ĐẠI không phải là cái TẤT YẾU, mang tính QUY LUẬT BẤT BIẾN mà hoàn toàn có thể tác động, thay đổi. Trong sự giáo dục bản lĩnh văn hóa dân tộc, nếu cứ lấy số đông khán giả thời đại làm “khuôn vàng thước ngọc” thì hẳn không có gì phải bàn nữa, cứ thế mà buông xuôi trong cơn lốc hội nhập, hết chuyện!

Đường đi của âm nhạc truyền thống – khảo sát và suy ngẫm

 

nhiều giọng hát lạc điệu so với cổ truyền nhưng dần dà lại được công nhận là “mới”, “là xu thế phát triển tất yếu của thời đại”. Chẳng hạn kỹ thuật rung giọng thì “như Tây”, kỹ thuật nảy hạt thì “qua quýt” cho xong chuyện. Các làn điệu thường được hát nhanh hơn nhiều so với cổ truyền. Họ thường biện hộ rằng “thời đại mới thì phải có tiết tấu mới”. Thật ra, theo điều tra thì trên thực tế, hát chậm rất khó bởi khi đó người hát phải có thực tài với sự thể hiện điêu luyện những kỹ thuật láy, nảy, rung, ngắt, nhả chữ… của kỹ thuật thanh nhạc cổ truyền. Thế nhưng trong “thời đại ngày nay”, sự thẩm định nghệ thuật lại thuộc loại “chuẩn mực” khác – cái chuẩn mực như “hơi thở thời đại” (câu cửa miệng của rất nhiều người trong chúng ta). Dần dà, với sự có mặt thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng, các “chuẩn mực mới” đó nghiễm nhiên được công nhận vì chẳng có ai phán xét gì.

Theo các nhà nghiên cứu Chèo, vào thời điểm cuối những năm 50, khi những nghệ nhân Chèo nổi tiếng được quy tụ lại thì gia sản của nghệ thuật Chèo cổ lúc đó có khoảng 50 vở diễn mẫu mực với khoảng 170 làn điệu. Vậy mà trong phân nửa thế kỷ qua, công chúng chỉ được biết đến có vài vở Chèo cổ hay thậm chí chỉ vài trích đoạn trong đó. Mà tất cả ít nhiều đều đã “được chỉnh lý, cải biên”. Điều trớ trêu là các tác phẩm bị “cải biên” đó mặc nhiên được công nhận là “cổ truyền đích thực” trong thời hiện tại. Có lẽ nhiều nhà nghiên cứu đành phải chấp nhận thưởng thức, nghiên cứu những “di sản cải tiến” đó bởi trên thực tế chúng ta không còn gì cổ hơn thế! Thậm chí có những sự “cải biên” đến mức khó tin. Đó là trường hợp trích đoạn Súy Vân giả dại. Trong đó diễn viên trình diễn theo lối mới cố gắng vật lộn gào thét điên dại như thật đến mức không bao giờ hát tốt được nữa vì bị hỏng giọng (!) Trả lời phỏng vấn trên truyền hình, một nghệ sĩ nổi tiếng đã thừa nhận rằng vì vai Súy Vân mà chị mất giọng Chèo nên luôn phải có người hát hộ (?)

Như chúng ta đều biết, tiết tấu là một khái niệm hàm nghĩa rất rộng. Ví dụ trên sân khấu cổ truyền, ngoài tiết tấu của việc trình diễn (bao gồm hành động, lời thoại và tình huống kịch…) còn có tiết tấu của âm nhạc. Tiết tấu của âm nhạc được chia ra thành tiết tấu của thanh nhạc và khí nhạc. Trong tiết tấu của khí nhạc lại có tiết tấu của nhạc cụ định âm và nhạc cụ không định âm. Mà tiết tấu của nhạc cụ định âm thì lại khá phức tạp. Thông thường khi hòa tấu một bài bản, có nhạc cụ diễn tấu theo lối đàn “ít chữ” nên giai điệu mang tiết tấu dàn trải, thưa thớt. Cùng lúc đó, một nhạc cụ khác có thể đàn theo lối “nhiều chữ” nên giai điệu mang tiết tấu tiếp biến mau, hoạt v.v… Khái niệm tiết tấu trong nghệ thuật âm nhạc, sân khấu cổ truyền phức tạp và tinh tế đến như thế. Vậy khi phê phán tiết tấu cổ truyền, người ta muốn nói đến tiết tấu của cái gì? ở đây, do không xác định cụ thể cái cần phê phán nên sự phê phán của họ vô tình trở thành một sự quy chụp thô bạo cổ truyền. Như thế, vô hình trung, họ đã mắc phải hai sai lầm cơ bản:

- Một là họ không nắm bắt được các giá trị nghệ thuật cổ truyền – một kho tàng với đủ mọi kiểu dạng tiết tấu, nhanh có, chậm có, vừa phải cũng có! Sai lầm đó có thể do họ không tiếp xúc nhiều với cổ nhạc Việt Nam hoặc do vốn tri thức nghệ thuật quá ít ỏi.

- Hai là cứ theo cách lập luận của họ, không lẽ trong thời đại mới, các tác phẩm nghệ thuật đều phải có tiết tấu nhanh, gấp, mau hoạt? Nếu điều đó xảy ra thì quả thật là khủng khiếp bởi nền nghệ thuật dân tộc khi đó sẽ trở nên hết sức đơn điệu!

âm nhạc cổ truyền Việt Nam có cơ tầng là âm nhạc dân gian. Trong đó, với đặc trưng ngẫu hứng ứng tác, sự kết hợp giữa khí nhạc và thanh nhạc có bản chất là hòa với ca chứ không phải đệm cho ca như kiểu nhạc Tây phương. Bởi vậy mà phần khí nhạc có thể tách rời để trở thành một bản hòa tấu hay độc tấu. Theo đó, mỗi nhạc công thực sự mang trong mình chức năng sáng tạo tại chỗ. Sự sáng tạo đó biểu hiện ở nhiều dạng thức khác nhau tùy thuộc vào cấp độ dị bản của bài bản và làn điệu.

khi người ta định hướng nghệ thuật theo tôn chỉ khán giả thời đại, sẽ có hai khả năng xảy ra:

- Thứ nhất, “khán giả thời đại” chỉ là cái cớ để người ta “hiện đại hóa” nghệ thuật theo quan điểm, sở thích cá nhân. Nói cách khác, người ta đã “nhân danh khán giả thời đại” để hành động chứ trên thực tế, chưa chắc số đông quần chúng ở nửa cuối thế kỷ XX đã “đòi hỏi” phải “hiện đại hóa” nghệ thuật kiểu như vậy.

- Thứ hai, rất có thể một bộ phận lớn quần chúng khán giả vào giai đoạn lịch sử đó đã không chấp nhận các giá trị nghệ thuật cổ truyền dân tộc. Và, người ta “hiện đại hóa” nghệ thuật dân tộc theo kiểu loại bỏ, làm mới đúng là để phù hợp với “khán giả thời đại”.

Trong trường hợp thứ nhất, câu chuyện sẽ trở nên hết sức đáng buồn bởi sự thiếu trung thực trong hành xử khoa học của một số người làm công tác văn hóa – nghệ thuật. Còn trong trường hợp thứ hai, trước sự “chối bỏ” nghệ thuật cổ truyền của quần chúng, phương án “hiện đại hóa” để tháo gỡ thực trạng liệu có phải là biện pháp tối ưu?

Ở đây, cần phải thấy rõ rằng họ (tức “khán giả thời đại”) không muốn thưởng thức nghệ thuật cổ truyền không hẳn vì các giá trị đó không phù hợp với họ. Chúng tôi cho rằng sở dĩ quần chúng không tiếp nhận là bởi lẽ họ chưa hiểu, chưa biết cảm thụ kiểu dạng nghệ thuật đó. Nguyên nhân là do họ không được giáo dục nhận thức và cảm thụ nghệ thuật – tức không tiếp nối được truyền thống thưởng thức đã có từ trước. Trong tiến trình phát triển, sự đứt đoạn đó tất yếu sẽ gây nên hiệu ứng “chối bỏ” các giá trị nghệ thuật cổ truyền ở những thế hệ tiếp nối.

Lẽ ra, trước sự đứt đoạn truyền thống thưởng thức nghệ thuật cổ truyền, chúng ta phải tháo gỡ thực trạng theo một cách khác. Trước hết cần phải thấy rằng trên thực tế, “thị hiếu” của “khán giả thời đại” giống như cái “đèn cù”. Nay thế này, mai thế khác. Trong tiến trình phát triển, nếu đơn thuần chạy theo thị hiếu, chúng ta tất sẽ sa đà vào vũng lầy của sự “tầm thường hóa” nghệ thuật. ở đây, sự quảng đại quần chúng không có nghĩa là phải biến đổi mọi giá trị để chiều lòng khán giả. Khái niệm đó cần được hiểu như sự hướng thiện thẩm mỹ cho công chúng để họ biết cảm nhận và trân trọng các giá trị đích thực. Mặt khác, thị hiếu thời đại không phải là cái tất yếu – cái “xu thế của thời đại” như người ta tưởng. Thực tế cho thấy thị hiếu hình thành theo quy luật nhân – quả. Nó được tạo nên bởi cả một quá trình giáo dục chủ động và lan tỏa trong môi trường xã hội theo hiệu ứng tâm lý đám đông. Vì thế, chúng ta hoàn toàn có nắm bắt (thậm chí kiểm soát?) được thị hiếu của “khán giả thời đại”. Cụ thể, chúng ta phải bảo tồn, tôn vinh các giá trị nghệ thuật cổ truyền với sự giáo dục một cách có hệ thống và quy mô trên diện rộng. Theo thời gian, sự giáo dục đại chúng đó tất sẽ dần tạo lập một thị hiếu mong muốn trong lòng xã hội.

Bùi Trọng Hiền-Tản mạn chuyện Bảo tồn di sản